Hotline: 02862767838

Thông tin tổng hợp về Bệnh vẩy nến

 18/02/2020  Đăng bởi: Lê Vân Anh

1. Bệnh vẩy nến là gì?

Bệnh vẩy nến là một căn bệnh ngoài da mãn tính, có xu hướng ngày càng trầm trọng thêm nếu không biết cách chăm sóc và điều trị.

Bệnh vảy nến biểu hiện trên da bằng các mảng đỏ hoặc xám có giới hạn rõ và đóng vảy màu trắng đục, khi ma sát, rơi xuống như sáp đèn cầy. Những mảng đỏ này có kích thước lớn nhỏ khác nhau, khi đè lên, màu đỏ biến mất.

Bệnh vảy nến thường gặp ở rìa chân tóc, da đầu, khuỷu tay, đầu gối, vùng xương cụt, mặt duỗi các chi. Bệnh không đau nhưng có thể gây ngứa với mức độ ít nhiều tùy theo từng người. Trong trường hợp nặng, bệnh có thể làm hư móng, gây đau khớp, biến dạng khớp, xuất hiện mụn mủ từng vùng hoặc toàn thân và đỏ da bong vảy.

Bệnh vảy nến thường gặp ở rìa chân tóc, da đầu

Bệnh vảy nến thường gặp ở rìa chân tóc, da đầu

Các triệu chứng đầu tiên có thể xuất hiện ở bât cứ độ tuổi nào, tuy nhiên, chúng có xu hướng xuất hiện ở giai đoạn đầu của tuổi trưởng thành, hoặc lúc lớn tuổi- khoảng 50- 60 tuổi.

2. Nguyên nhân chính gây bệnh vảy nến:

Yếu tố miễn dịch được cho là nguyên nhân chính gây ra bệnh vảy nến. Thêm vào đó, yếu tố di truyền, các bất thường về sinh hóa, chấn thương tâm lý, tác dụng phụ của thuốc… cũng có thể gây khởi phát, tái phát hoặc làm bệnh nặng thêm

-    Yếu tố di truyền: nếu trong gia đình có bố hoặc mẹ mắc bệnh, con cũng có khả năng mắc bệnh vảy nến, với tỷ lệ như sau:
•    Chỉ có cha hoặc mẹ mắc bệnh: Khoảng 8% con sẽ mắc bệnh
•    Cả cha và mẹ cùng bị vảy nến: Hơn 40% con có nguy cơ mắc bệnh
-    Hệ miễn dịch suy yếu, bao gồm cả nguyên nhân do nghiện rượu, thuốc lá
-    Yếu tố tác động như chấn thương tâm lý, tác dụng phụ của thuốc… cũng có thể gây khởi phát, tái phát hoặc làm bệnh nặng thêm; đặc biệt là nhiễm liên cầu, nhiễm siêu vi..
-    Tổn thương da, bao gồm: Vết cắt hoặc trầy xước, côn trùng cắn hoặc bị cháy nắng nghiêm trọng

nguyên nhân do nghiện rượu, thuốc lá

Bia, rượu và thuốc lá có thể gây khởi phát bệnh vảy nến

Từ các nguyên nhân trên dẫn đến quá trình tái tạo các tế bào suy yếu  dần dẫn đến hậu quả:

-    Suy giảm Các phản ứng chống viêm ở lớp hạ bì ở dưới và lớp biểu bì phía trên.
-    Tỉ lệ keratinocytes tăng lên (Tăng sừng ở tầng biểu bì).
-    Vòng sinh trưởng các tế bào da ngắn hơn, khiến tế bào sản sinh nhiều hơn tế bào chết đi làm da dày, sần sùi.
-    Rối loạn quá trình tróc vảy khiến lớp da ngoài bong ra liên tục

3. Bệnh vảy nến có lây không?

Bệnh vảy nến hoàn toàn không có khả năng lây nhiễm

Bệnh vảy nến không phải do nấm, virus hay vi khuẩn gây ra, do đó, bệnh vảy nến không có khả năng lây nhiễm do đó, người bệnh hoàn toàn có thể tiếp xúc da với người lành như ôm hôn, mặc chung quần áo…

4. Các loại bệnh vảy nến thường gặp:

- Bệnh vẩy nến Plaque (hay vẩy nến thông thường) là dạng bệnh xảy ra phổ biến nhất của bệnh vẩy nến, chiếm khoảng 80% trường hợp mắc bệnh. Chúng xuất hiện ở dạng các vết tổn thương màu đỏ, bị lồi lên và thường dẫn đến hiện tượng da bị viêm. Chúng cũng có thể bị bao phủ bởi một lớp vẩy màu bạc hoặc màu trắng. Những vết tổn thương này thì thường được thấy ở đầu gối, khuỷu tay hoặc phía dưới lưng. 

Cận cảnh bệnh vảy nến

đặc điểm là các 'mảng' màu hồng, xám, được phân ranh giới rõ ràng

- Bệnh vẩy nến Guttate được định rõ đặc điểm là 'các vết tổn thương lốm đốm', thường là các vết nhỏ màu đỏ xuất hiện trên cơ thể hoặc ở chân tay. Chúng thường không lồi lên như bị vẩy nến Plaque. Bệnh vẩy nến Guttate có thể xuất hiện lần đầu khi còn nhỏ hoặc trong những năm đầu khi mới trưởng thành, hoặc có thể xuất hiện đột ngột. 

- Bệnh vẩy nến Inverse xuất hiện là các mảng màu đỏ sáng, không sần sùi và láng bóng. Chúng thường được thấy ở các nếp gấp và các vùng da mềm như nách, háng, phía dưới ngực hay vùng mông. Những vùng này cũng có thể trở nên bị rát khi bị va chạm và/hoặc khi đổ mồ hôi.

- Bệnh vẩy nến Pustular thường thấy ở người lớn, và được định rõ đặc điểm bởi các vết phỏng giộp có mủ trắng (không bị nhiễm trùng bởi vì chúng có chứa tế bào bạch cầu). Những vết phỏng giộp này có thể làm vùng da chung quanh đỏ lên, có thể giữ nguyên hoặc lan rộng ra.

- Bệnh vẩy nến Erythrodermic là hiện tượng viêm da tự nhiên và do đó thường ảnh hưởng đến nhiều vùng da của cơ thể. Các vùng da bị đỏ và bong lớp vẩy ở diện rộng gây nên đau đớn và khó chịu.

5. Giải pháp điệu trị và làm giảm triệu chứng bệnh vảy nến:

Chữa trị tại chổ bệnh vẩy nến bao gồm là tập trung vào giai đoạn đầu da chai cứng, viêm nhiễm và giai đoạn thuyên giảm, nên có sự khám và tư vấn của bác sĩ. 

Các liệu pháp chữa trị tại chổ bệnh vẩy nến bao gồm là sản phẩm có chứa thuốc làm mềm, chất dưỡng ẩm, hoạt chất keratolytic và cortisosteroids. 

-    Giai đoạn đầu chai cứng có thể sử dụng hoạt chất Keratolytic, Chât corticosteroids phù hợp và thường được sử dụng kết hợp với kem dưỡng ẩm và thuốc làm mềm da. Riêng corticosteroids không nên sử dụng thường xuyên trong thời gian dài vì có thể làm tái bùng phát bệnh (làm trầm trọng thêm bệnh). Bổ sung hoạt chất giúp làm bong tróc các vùng bị chai và các lớp da sừng dày.

dưỡng ẩm vảy nến

Sử dụng các thuốc dạng bôi điều trị tại chỗ giúp kháng viêm và làm mềm lớp sừng

-    Giai đoạn làm dịu và thuyên giảm nên dùng các sản phẩm dưỡng ẩm và làm mềm da giúp làm giảm lượng nước bị mất do bay hơi khỏi da, giúp bề mặt của da, hay lớp sừng được cấp nước đầy đủ. Các chất dưỡng ẩm nâng cao còn chứa có hoạt chất như Gluco-glycerol, urea làm tăng lượng nước ở lớp da sâu phía dưới bằng cách kích hoạt hệ thống dưỡng ẩm tự nhiên của da và cung cấp nước cho các lớp da phía trên. 

-    Bổ sung Vitamin D đường uống cũng giúp ích trong quá trình chữa các bệnh vẩy nến mãn tính.

6. Các lưu ý khi điều trị bệnh vảy nến:

-    Cần sử dụng các chất dưỡng ẩm và làm mềm da thường xuyên và liên tục khi da đã dịu nhẹ hoặc đang bùng phát bệnh.
-    Để kiểm soát cũng như phòng ngừa vảy nến, người bệnh nên:
•    Giữ tinh thần thoải mái, hạn chế căng thẳng
•    Bảo vệ sức khỏe tổng thể, Tăng cường vận động, thể thao
•    Giữ vệ sinh cơ thể và môi trường sống
•    Dinh dưỡng lành mạnh
•    Thăm khám ngay khi các dấu hiệu vảy nến xuất hiện
•    Dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ da liễu hay một số chuyên khoa khác tùy theo tình trạng bệnh lý

Viết bình luận của bạn: